Thứ Bảy, 18/04/2026 - 19:12

Chế Lan Viên – Một nhà thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 14/1/1920 ở Cam Lộ, Quảng Trị. Lên 7 tuổi, cả nhà chuyển vào Bình Ðịnh, bút danh Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. Năm 17 tuổi, nổi tiếng với tác phẩm Ðiêu tàn. Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, vào Sài Gòn làm báo, lại về Huế dạy học. Khoảng 1942, ra Vàng sao, viết tập truyện ngắn Gai lửa. Sau Cách mạng tháng 8, làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ… Năm 1949, Chế Lan Viên vào Ðảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều năm ông tham gia ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, Ðại biểu Quốc hội các khoá 4, 5, 6, 7.

Danh mục: Thơ Chế Lan Viên

Điêu tàn (1937)
Cái sọ người   Những sợi tơ lòng   Mộng
Điệu nhạc điên cuồng   Ngủ trong sao   Đừng quên lãng
Ta   Mồ không   Trên đường về
Đọc sách   Chiến tượng   Tạo lập
Nắng mai   Tắm trăng   Những nấm mồ
Xương khô   Đám ma   Tiếng trống
Bóng tối   Đêm tàn   Hồn trôi
Xuân về   Sông Linh   Vo lụa
Thu (I)   Máu xương   Tiết trinh
Trăng điên   Đêm xuân sầu   Đầu rơi
Xương vỡ, máu trào…   Đợi người Chiêm nữ   Xuân
Cõi ta   Đầu mênh mang   Mơ trăng
Sau Điêu tàn (1937-1947)
Ánh sáng   Biển cả   Chết giữa mùa xuân
Chiêm quốc u sầu   Chiều chiều   Chờ ngày sum họp
Chuỗi đêm sầu   Đường đi trăm lối   Đường về nước cũ
Em bỗng đến   Hoàng hôn   Im lặng
Không đề   Khúc ca chiều   Khuya tiếng sóng
Lại thấy thời gian   Mai đã…   Một đêm sầu
  Nguồn thơ của tôi   Nhớ mình
Ở đây   Rừng xuân   Say
Sôi nổi   Ta là ai?   Thơ đã mất trinh
Thời oanh liệt   Thu (II)   Thu về
Trưa đơn giản   Trứng thằn lằn   Từ đâu?
Vọng chung châu        
Gửi các anh (1954)
Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ   Chào mừng   Cho uống thuốc
Đời xóm nhỏ   Đưa con ra trận   Gởi mẹ trong vùng giặc chiếm
Mắt anh đã thấy cả rồi   Ngủ yên đồng chí nhé   Nhớ lấy để trả thù
Những đồng chí chúng ta   Staline sống mãi   Trường Sơn
Vững lòng        
Ánh sáng và phù sa (1960)
…Cái vui bây giờ   A và H   Bay ngang mặt trời
Cách chia   Cành hoa nhỏ   Cành phong lan bể
Chị văn công   Chim lượn trăm vòng   Chớ hái hoa trong bệnh viện
Cỏ nghĩa trang   Cờ đỏ mọc trên quê mẹ   Đêm ra trận
Đêm tập kết   Đêm xuân sầu   Đi ra ngoại ô
Đi thực tế   Điện và trăng   Đọc Kiều (I)
Gắn huân chương   Giữa ngày Phú Lợi   Giữa tết trồng cây
Gốc nhãn cao   Hai câu hỏi   Hoa đào nở sớm
Hoa hồng trong bệnh viện   Kết nạp Đảng trên quê mẹ   Khi đã có hướng rồi
Lá nguỵ trang   Lạ nhà   Lương mới
Mặc dù trong đêm, mặc dù trong tối   Mây và hoa   Mẹ
Một ngày thống nhất, ngày mai   Nay đã phù sa   Ngoảnh lại mùa đông
Ngoảnh lại mười lăm năm   Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém   Ngủ rừng Lào 1952
Người đi tìm hình của nước   Nhật ký một người chữa bệnh   Nhớ Bế Văn Đàn
Nhớ Việt Bắc   Nỗi đau ngày cũ…   Ôi chị Hằng Nga cô gái Nga
Qua Hạ Long   Tàu đến   Tàu đi
Tặng An-tô-kôn-sky   Tết trung thu   Thăm bia liệt sĩ Nam Ninh
Theo tình nguyện quân qua biên giới năm 1952   Thư mùa nước lũ   Tiếng chim (I)
Tiếng hát con tàu   Tiếng hát thằng điên trong dinh Độc Lập   Tình ca ban mai
Toán   Trăng   Trên dải Trường Sơn
Trông thư   Trưa   Từ xa rừng bản…
Vàng của lòng tin   Xa Tổ quốc   Xem ảnh
Xóm cũ   Xuất cảng trúc   Ý nghĩ mùa xuân
Hoa ngày thường – Chim báo bão (1967)
60 tuổi một nhà thơ lưu vong nước Thổ   Bé Thắm đàn   Cái hầm chông giản dị
Cảnh giác   Cây dẫn về em   Chiều
Chim vít vịt   Chùm nhỏ thơ yêu   Con cò
Con đi xơ tán xa   Con hỏi cha   Con lên Quế Võ
Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa   Con tập nói   Con thức dậy
Cờ giặc Mỹ   Cuộc vui trong dinh Độc Lập   Cuối năm
Dậy   Đế quốc Mỹ là kẻ thù riêng của mỗi trái tim ta   Đi trong hương chùa Hương
Đức Chúa Trời của chúng mặt Xa-tăng   Đừng quên   Gửi Kiều cho em năm đánh Mỹ
Hoa những ngày thường   Không ai có thể cứu chúng mày   Làm bà mẹ ở Việt Nam
Lộc mùa xuân   Mây và hoa trên Vạn Lý Trường Thành   Nghĩ về Đảng
Nghĩ về thơ (II)   Ngọn lửa Mô-ri-xơn   Người thay đổi đời tôi, người thay đổi thơ tôi
Nhớ   Nhớ em nơi huyện nhỏ   Ở đâu, ở đâu, ở đất anh hùng
Phải có thời gian   Quả vải vào mùa   Sao chiến thắng
Sông Cầu   Suy nghĩ 1966   Tặng bạn gần gửi những bạn đang xa
Thành phố tuổi thơ   Thế đấy mà miền Nam   Thóc mới Điện Biên
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?   Tôi đi từ… Tôi đến…   Trời đã lạnh rồi
rước hầm Đờ Cát        
Những bài thơ đánh giặc (1972)
Phác thảo cho một trận đánh, một bài thơ diệt Mỹ   Phản “Diễn ca” hay “Phản diện” ca về học thuyết Nich-xơn   Thời sự hè 72 – Bình luận
Đối thoại mới (1973)
Bác   Bác vẫn còn đây   Búp lộc vừng
Cành đào tiểu đội Y   Cầu vồng   Cây giữa chu kỳ
Cây mai vườn Thống Nhất   Chim ấy, rau này   Chim bao gặp mẹ
Chim biếc Vĩnh Linh   Chim con trong liễu   Chim về
Chơi chữ về ngõ Tạm Thương (tức Tạm Sương)   Chơi Yên Tử, nhớ Hoa Yên   Chuỗi thơ anh Trỗi
Dương liễu thôn   Đào   Đạp tuyết
Đặt tên con   Đọc “Bất khuất”   Đợi thư con
Hoa chùa Hương   Hoa gạo son (I)   Hoa lau trắng
Hoa mộc trong vườn Bác   Hoa quê mình   Hoa tháng ba
Hoàng thảo hoa vàng   Hồng trận địa   Im bớt màu hoa
Lặng im thì mới nghe   Liễu cũng chờ em   Lòng anh làm bến thu
Mai   Mây của hoa   Nghĩ suy 68
Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…   Nghìn rưởi ngày đêm   Nhánh đào yêu
Nich-xơn chơi hoa   Nội dung và hình thức   Rét đầu mùa nhớ người đi phía bể
Rễ… hoa   Sổ tay thơ   Sơn Mỹ
Súng bên bàn   Tặng một chiến sĩ Pathét Lào   Tặng thơ
Thăm sư cụ ngày mùa   Thời gian không đợi   Thời gian và nỗ lực
Tranh ngựa   Trăng hoả tuyến   Trận tuyến này cao hơn cả màu da
Trở về Quảng Bá   Trung thu 69   Tu hú
Tuỳ bút một mùa xuân đánh giặc   Tuyên bố của mỗi lòng người, khẩu súng, cành hoa   Từ đất đến bình
Vừa thấy môi hoa   Vườn mẹ không hoa   Xuân 68 gửi miền Nam Tổ quốc
Xuân vĩnh viễn        
Hoa trước lăng Người (1976)
Bể và Người   Cách mạng, chương đầu   Di chúc của Người
Đọc văn Người   Giờ phút chót   Lộc của đời
Ném thừng   Nếu quên thanh gươm ta chẳng hiểu Người   Thấy từ lúc ấy
Tiếng khóc đúc Việt Nam thành một khối   Trận đánh của tình thương   Trong lăng và ở bên ngoài
Hái theo mùa (1977)
Anh ấy tên Đào   Biện chứng   Bướm Trường Sơn
Các anh xưa   Canh cá tràu   Cành mai ở chốt
Cây và bóng   Chân trời   Chơi với sư
Dây thép gai   Dọc đường   Đến con trẻ cũng lưu đầy ư, nước Mỹ?
Đi giữa mùa xuân   Đọc Kiều (II)   Đói
Gió mùa đông bắc   Giống quê ta   Gửi Nguyễn Du
Gửi nhà thơ lớn Chi-lê: Pa-lơ-lô Nê-ru-đa   Hai bờ Bến Hải   Hai danh hiệu
Hai giây   Hầm rượu nho   Hoa đại đỏ
Hoa gạo son (II)   Hoa hoài trên đảo Long Châu   Hoa súng hồng
Hoa súng tím   Hoa trong vườn mẹ   Hương lúa hương rừng
Hương lúa vào chùa   Hương trái đất   Kém mắt
Làm Hăm-let ở Việt Nam   Lời ru tháng chạp   Lửa rừng
Nếu   Ngày vĩ đại   Nghe sóng
Nhắn Tô Đông Pha   Pháo binh   Quá nửa đường
Quê và hương sơ tán   Pho, tên mẹ mìn của thế kỷ hai mươi   Ra hoa và đậu củ
Rừng Cúc Phương   Sau cơn bom, hoa sữa   Tằm và nhện
Tặng Việt kiều về nước   Tấn kịch   Tập qua hàng
Thà nó cứ là thằng mất dạy   Thỏ thẻ hoà bình   Thống kê ở ga Yên Viên
Thơ bổ sung   Tiếng bom   Tiếng chim (II)
Tiếng cười năm đói   Tiếng gọi   Tiếng mùa xuân
Tìm lại ra mình   Tóc mẹ   Trang giấy
Trận đánh   Tự trách mình   Tương quan
Và ong   Vào chùa   Vào lịch sử
Vẫn cành mai ấy   Vịt trời Hồ Tây   Vòng cườm trên cổ chim cu
Vườn mẹ   Xã viên   Xe sợi
Hoa cho đá I (1984)
Cành đào Nguyễn Huệ   Chia   Côn Sơn
Dã tràng có ích   Lau biên giới   Lăm vông
Múa bên chùa cổ   Nghe hết câu chèo   Người thợ chạm
Phía ấy   Sen Huế   Thơ bình phương – đời lập phương
Tiếng cuốc kêu ở Điện Biên   Trở lại An Nhơn   Tứ tuyệt
Ta gửi cho mình (1986)
Bay theo đường dân tộc đang bay   Cháo vịt   Mình và ta
Nghĩ thêm về Nguyễn   Vọng phu (1)    
Hoa trên đá II (1988)
Bình đựng lệ   Bộ ba   Cờ
Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh   Đo   Gửi trạng Thông họ Hoàng
Ích gì?   Kỷ niệm Nguyễn Du   Lệ hồi âm
Lộn trái   Nhà không trần   Tháp Bay-on bốn mặt
Thời gian nước xiết   Tu hú có cần đâu?   Vọng phu (2)
Xâu kim        
Dị cảo
Phần I – Những bài đã hoàn chỉnh (1992)
Chị Ba   Chính uỷ   Chung một bóng đèn
Đảo nhớ đất liền   Đằng nào cũng vậy   Gội tóc nơi trọng điểm
Khách lấy hàng   Mưa đêm   Ngủ rừng
Rét đầu mùa   Sa mạc   Tiếng ve
Tuổi già làm thơ tứ tuyệt   Vô thần    
Phần II – Các bài mới ở dạng phác thảo (1993)
Bến Lú – sông Tương   Cho em   Cô Tấm
Đạo diễn   Đất nước ta   Đến ngày
Định nghĩa dân tộc   Đông Kisốt   Đừng ngăn cản
Hai chiều   Hai thứ tiếng   Hái trên trời
Hỏi? Đáp   Hương sen   Lên gác
Lò thiêu   Một người thường   Nai bất tử
Ngàn lau   Ngày trống không   Người mai sau
Nhiệm vụ   Quên   Sao (1)
Sao (2)   Từ thế chi ca (I)   Từ thế chi ca (II)
Về quê cũ        
Phần III – Nghĩ về thơ và nghĩ ngoài thơ (phác thảo, 1996)
Ai? Tôi!   Ảo tưởng   Ấy
Ba lần   Các mùa hoa   Chơi
Chuyến xe   Con nhặng xanh   Cờ đỏ sao vàng
Giàn hoả   Giếng   Gió lật lá sen hồ
Giọng trầm   Giờ báo tử   Hạt gạo
Họ   Hồi ký bên trang viết   Kịch (2)
Lừa   Mèo chuột   Người nữ tử tù đan áo
Nợ   Pútskin   Quan niệm thơ
Thơ thế kỷ 21   Thời thượng   Tiếng ru
Tiếng vang   Tôi viết cho người…   Xe tang qua nhà
Các bài thơ công bố sau
Hai tên   Hầm rượu nho   Lý do
Vòng lửa   Xe cháy   Xuân trong bom
Một số bài thơ của Nhà thơ Chế Lan Viên
Ong và mật   Sân bay   Tay thứ mấy
Thay đổi   Thế kỷ   Tìm đường
Bánh vẽ   Cẩn thận   Chiều tin tưởng
Đoạn cuối thế kỷ   Đột ngột cây chiều   Giật mình
Gió đầu mùa   Khi cây chết   Tìm đường
Khoảng cách   Mùa ve   Ong và mật
Sân bay   Tay thứ mấy   Thay đổi
Thế kỷ   Tìm đường   Trừ đi
Xứ Lào   Bánh vẽ    

 



Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *